NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN VỀ LUẬT TIẾP CẬN THÔNG TIN NĂM 2026
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã được Quốc hội Khóa XVI, Kỳ họp thứ
Nhất thông qua ngày 23 tháng 4 năm 2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng
9 năm 2026. Luật Tiếp cận thông tin được thông qua gồm 04 Chương, 31 Điều. Việc
ban hành Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 nhằm tiếp tục thể chế hoá chủ trương,
đường lối của Đảng về phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ
của Nhân dân, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của công dân; tăng cường trách
nhiệm giải trình, công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà
nước, đơn vị sự nghiệp công lập; đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành
chính, chuyển đổi số và mô hình tổ chức của các cơ quan sau sắp xếp.
Một số quy định và điểm mới của Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 như
sau:
1. Luật mở rộng phạm vi chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định rõ trách
nhiệm của cơ quan nhà nước; đồng thời mở rộng đơn vị sự nghiệp công lập có
nhiệm vụ cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu cũng có trách nhiệm
cung cấp thông tin.
2. Điều chỉnh phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông
tin của Ủy ban nhân dân cấp xã
- Phạm vi và trách nhiệm cung cấp thông tin của
chính quyền địa phương được điều chỉnh phù hợp với thực tiễn và mô hình tổ chức
mới sau sắp xếp. Đồng thời Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định Ủy ban
nhân dân cấp xã có trách nhiệm cung cấp thông tin do mình tạo ra nhưng không
phải cung cấp thông tin do mình nắm giữ (trừ một số trường hợp theo quy định).
- Về bố trí đầu mối cung cấp thông tin ở cấp tỉnh,
cấp xã Luật cũng không quy định cứng như trước đây. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh,
cấp xã được chủ động xác định đơn vị đầu mối cung cấp thông tin phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương.
2. Mở rộng phạm vi thông tin phải được công khai
Điều 17 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã liệt kê
cụ thể, chi tiết các thông tin phải được công khai. Trên cơ sở kế thừa các quy
định của Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật năm 2026 đã bổ sung thêm các
nhóm thông tin quan trọng gắn liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân và
hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp như: Thông tin việc xử phạt vi
phạm hành chính về an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, dược, lao
động, xây dựng, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo vệ môi trường, thuế, chứng
khoán, sở hữu trí tuệ, đo lường, sản xuất, buôn bán hàng giả mà gây hậu quả lớn
hoặc gây ảnh hưởng xấu về dư luận xã hội; thông tin về việc người sử dụng lao
động chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp; thông
tin chung về cơ sở giáo dục; thu, chỉ tài chính của cơ sở giáo dục; điều kiện
bảo đảm chất lượng, kế hoạch và kết quả hoạt động đối với giáo dục mầm non,
giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; điều kiện bảo đảm chất lượng đào
tạo, nghiên cứu, kế hoạch và kết quả hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ
đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thông tin về chất lượng môi
trường, ô nhiễm môi trường; kế hoạch ứng phó sự cố môi trường; thông tin về sự
cố môi trường; thông tin về các nguồn thải vào môi trường nước mặt và các nguồn
có nguy cơ gây ra sự cố môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố; báo cáo đánh
giá tác động môi trường; giấy phép môi trường; thông tin về di sản thiên nhiên,
hệ sinh thái tự nhiên, loài sinh vật và nguồn gen; khu bảo tồn thiên nhiên và
cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học; vùng đất ngập nước quan trọng; kết quả quan
trắc chất lượng môi trường đất, không khí, nước mặt, nước dưới đất, nước biển,
trầm tích, môi trường thủy sinh của nguồn nước mặt; thông tin về giá dịch vụ
khám bệnh, chữa bệnh; các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vi phạm pháp luật về y tế…
4. Luật quy định các nhóm thông tin công dân không
được tiếp cận
- Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 đã quy định cụ
thể thông tin công dân không được tiếp cận và thông tin công dân được tiếp cận
có điều kiện. Quy định này nhằm bảo đảm sự hài hòa giữa quyền tiếp cận thông
tin của công dân với yêu cầu bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh quốc gia và bảo vệ
dữ liệu cá nhân.
- Theo đó, Điều 15 Luật quy định có 06 nhóm thông
tin công dân không được tiếp cận, gồm: Thông tin thuộc bí mật nhà nước theo quy định của
pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước. Khi thông tin thuộc bí mật nhà nước được
giải mật thì công dân được tiếp cận theo quy định của Luật này; thông tin về
đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo quy định của pháp luật
dân sự và dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá
nhân; bí mật kinh doanh theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ; thông
tin mà nếu cung cấp sẽ gây nguy hại đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến quốc
phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội,
sức khỏe của cộng đồng, gây nguy hại đến tính mạng, sức khỏe, quyền và lợi ích
hợp pháp hoặc tài sản của cơ quan, tổ chức hoặc người khác; thông tin thuộc bí
mật công tác do cơ quan, đơn vị xác định theo quy định của pháp luật; thông tin
về cuộc họp nội bộ của cơ quan, đơn vị; tài liệu do cơ quan, đơn vị soạn thảo
cho công việc nội bộ.
5. Đa dạng các hình thức công khai, cung cấp thông
tin và khuyến khích áp dụng phương thức qua môi trường điện tử
Các hình thức công khai, cung cấp thông tin được
Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định đa dạng hơn, phù hợp với xu hướng
chuyển đổi số, như: Công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử, trang
thông tin điện tử, cổng dữ liệu, các kênh nội dung, trang cộng đồng chính thức,
công khai thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng; Cung cấp thông
tin tại cơ
quan, đơn vị; qua dịch vụ bưu chính; qua mạng Internet, bao gồm qua thư điện
tử, cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử, cổng dữ liệu, Cổng dịch vụ
công quốc gia, ứng dụng di động hoặc các nền tảng số khác do cơ quan, đơn vị có
thẩm quyền công bố… Việc đa dạng hóa các hình thức công khai, cung cấp thông tin nhằm
bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận thông tin của công dân trên môi trường số.
6. Quy định các hành vi bị nghiêm cấm
Tại Điều 5 Luật Tiếp cận thông tin quy định các
hành vi bị nghiêm cấm như sau:
- Cố ý cung cấp thông tin sai lệch, không đầy đủ,
trì hoãn cung cấp thông tin; không cung cấp thông tin theo quy định; hủy hoại
thông tin; làm giả thông tin.
- Cung cấp, sử dụng thông tin để chống lại Nhà nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết, xúc phạm tín
ngưỡng, tổn giáo, kỳ thị, chia rẽ dân tộc, kích động bạo lực, gây ảnh hưởng đến
quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại, trật tự, an toàn xã hội.
- Cung cấp, sử dụng thông tin nhằm xúc phạm danh
dự, nhân phẩm, uy tín, gây kỳ thị về giới, gây thiệt hại về tính mạng, sức
khỏe, tài sản, xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp khác của cơ quan, tổ
chức, cá nhân.
- Cản trở, đe dọa, trù dập người yêu cầu, người
cung cấp thông tin; cần trở hoạt động cung cấp thông tin.
- Phát tán, mua bán trái pháp luật hoặc cố ý làm lộ
thông tin được cung cấp liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, dữ
liệu cá nhân, bí mật gia đình, bí mật kinh doanh theo quy định tại Điều 16 của
Luật này.
- Lợi dụng việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin
để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, gây cản trở đến hoạt động bình thường
của cơ quan, tổ chức.
7. Về chi phí tiếp cận thông tin
Điều 25 Luật Tiếp cận thông tin năm 2026 quy định
chi phí tiếp cận thông tin như sau:
- Công dân được cung cấp thông tin không phải
trả phí, lệ phí, trừ trường hợp pháp luật có liên quan quy định khác.
- Người yêu cầu cung cấp thông tin có trách
nhiệm thanh toán chi phí thực tế để in, sao, chụp, gửi thông tin.
Về mức chi phí cụ thể, việc quản lý và sử dụng chi
phí cung cấp thông tin, giao Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định cụ thể.
Từ những quy định nêu trên có thể thấy, việc triển khai hiệu quả Luật
Tiếp cận thông tin năm 2026 sẽ góp phần nâng cao tính công khai, minh bạch và
trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước; tăng cường sự tham gia và giám
sát của Nhân dân; thúc đẩy xây dựng nền hành chính dân chủ, chuyên nghiệp, hiện
đại, phục vụ Nhân dân.
Mỗi cán bộ, công chức, viên chức và người dân cần chủ động tìm hiểu,
nghiên cứu, nâng cao nhận thức và chấp hành nghiêm các quy định của Luật Tiếp
cận thông tin năm 2026; thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình trong
việc tiếp cận, khai thác và sử dụng thông tin theo quy định của pháp luật, góp
phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do
Nhân dân và vì Nhân dân./.