18 TÌNH HUỐNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI Ở CƠ SỞ, HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
Thực
hiện Kế hoạch số 688/KH-UBND ngày 05/02/2026 triển khai công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở; cấp xã đạt chuẩn tiếp cận pháp luật; hỗ
trợ pháp lý cho doanh nghiệp nhỏ và vừa và trợ giúp pháp lý năm 2026 trên địa
bàn phường Phan Thiết; Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định số
27/2025/QĐ-TTg ngày 04/8/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định về xã, phường,
đặc khu đạt chuẩn tiếp cận pháp luật và Thông tư số 15/2025/TT-BTP ngày
11/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Quyết định số 27/2025/QĐ-TTg
trên địa bàn phường Phan Thiết
Văn phòng HĐND và UBND phường giới thiệu 18 tình huống
pháp luật về hòa giải ở cơ sở, hôn nhân và gia đình để tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật như sau:
Tình huống 1: Quyền
về lối đi qua bất động sản liền kề
Nội dung: Bà T và bà G là hàng xóm của nhau, nhà bà T bị vây bọc bởi nhà bà G và các
nhà khác không có lối đi ra đường chung của xóm. Xét thấy lối đi từ nhà bà T ra
đường chung của xóm nếu được mở trên phần đất nhà bà G là thuận tiện và hợp lý
nhất, nên từ năm 2000, được sự động viên của trưởng thôn và các hộ dân xung
quanh, bà G có chừa cho bà T một phần đất của mình để làm lối đi ra đường chung
của xóm, tuy nhiên, do đất đai ngày càng có giá trị và nghe lời khuyên của một
số người họ hàng, đầu năm 2023, bà G đã rào lối đi này lại không cho nhà bà T
đi ra đường chung của xóm. Bà T đã thỏa thuận đền bù cho bà G về phần đất dùng
để làm lối đi này nhưng bà G nhất quyết không đồng ý vì cho rằng bà T không có
quyền yêu cầu bà chừa lối đi như vậy, hai bên đã to tiếng, gây mất trật tự
trong khu dân cư.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân
Giữa bà T và bà G đã xảy ra mâu thuẫn về lối đi từ nhà bà T ra đường công cộng
của xóm do chưa thỏa thuận được với nha.
2. Phân
tích
Theo quy định pháp luật, bà T có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây
bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ, nghĩa là có quyền yêu
cầu bà G dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của bà G; đồng thời, bà
T có nghĩa vụ phải đền bù cho bà G, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
3. Căn
cứ giải quyết:
- Quy định pháp luật: Khoản 1 Điều 29 Luật Đất đai năm 2024 quy định “Quyền đối
với thửa đất liền kề bao gồm quyền về lối đi; cấp nước, thoát nước; tưới
nước, tiêu nước trong canh tác; cấp khí ga; lắp đường dây tải điện, thông tin
liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác theo quy định của pháp luật.”.
- Điều 245 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Quyền đối với bất động
sản liền kề là quyền được thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản
chịu hưởng quyền) nhằm phục vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc
quyền sở hữu của người khác (gọi là bất động sản hưởng quyền)”.
- Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Quyền về lối đia qua
như sau:
“Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất
động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra
đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành
cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi
là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây
bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền
bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận
khác”
- Đạo lý: Vận dụng tục ngữ: “Bán anh em xa mua láng giềng gần”, “Tối lửa tắt
đèn có nhau”.
4. Hướng
giải quyết:
Phân tích cho bà G hiểu về việc bà T yêu cầu được chừa lối đi qua nhà bà để
đi ra đường chung của xóm là theo quy định pháp luật; động viên, thuyết phục bà
đồng ý thỏa thuận để bà T đền bù một khoản tiền nhất định, để cả hai bên cùng
vui vẻ, gắn bó với nhau như từ trước giờ, để hàng xóm lại “Tối lửa tắt đèn có
nhau”.
Tình huống 2: Tranh chấp phân chia di sản thừa kế
Nội dung: Ông L kết hôn với bà N có 03 người con là A, B và T. Năm 2019, ông L qua đời
không để lại di chúc. Năm 2022, 03 người con cùng bà N họp thỏa thuận phân chia
di sản. Di sản của ông L được xác định là quyền sở hữu 02 căn nhà và 300 triệu
đồng tiền mặt; ngoài ra, sau khi ông L chết, số tiền mọi người đến phúng viếng
trong đám tang của ông L là 200.000.000 đồng. Khi họp bàn những người thừa kế,
bà N, anh B và T đều thống nhất phân chia di sản theo phương án “02 căn nhà
chia cho hai người con trai là anh B và T, 300 triệu chia cho 04 người: bà N,
anh B, anh T và chị A” và xác định số tiền phúng viếng 200.000.000 đồng không
phải là di sản thừa kế nên không thực hiện phân chia. Chị A không chấp nhận
phương án này vì cho rằng: tất cả tài sản liên quan đến người cha đều phải được
phân chia và đã là con thì phải được hưởng như nhau, yêu cầu mẹ và hai người
anh phải thanh toán cho mình phần giá trị tài sản quy đổi thành tiền mà mình được
hưởng từ 02 căn nhà, đồng thời, chia cho mình phần tiền phúng viếng 200.000.000
đồng. Giữa chị A và bà N, anh B, anh T đã xảy ra mâu thuẫn.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân
Giữa mẹ con bà N, anh B, anh T và chị A (con của ông L và N) đã xảy ra mâu
thuẫn do: (1) chưa thống nhất được phương án phân chia di sản: quyền sở hữu 02
căn nhà và 300 triệu đồng tiền mặt do ông L để lại và (2) chưa xác định đúng
quy định pháp luật về tài sản là di sản thừa kế.
2. Phân tích
- Phương án phân chia di sản của bà N, anh B, anh T đối với phần di sản do
ông L để lại: “02 căn nhà chia cho hai người con trai là anh B và anh T, 300
triệu chia cho 04 người: bà N, anh B, anh T và chị A” vì quan niệm rằng con gái
có chồng theo chồng, không thờ cúng tổ tiên thì được hưởng ít hơn là sai; chị A
không đồng tình với phương án phân chia là đúng.
- Chị A cho rằng số tiền phúng viếng 200.000.000 đồng là di sản thừa kế của
ông L là sai theo quy định pháp luật.
3. Căn
cứ giải quyết
- Căn cứ quy định pháp luật:
* Đối với việc xác định di sản thừa kế:
Quan điểm của bà N, anh B, anh T trong tình huống trên là hoàn toàn phù hợp
quy định pháp luật:
Điều 612 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Di sản bao gồm tài sản
riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người
khác”.
Khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định“Thời điểm mở
thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một
người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều
71 của Bộ luật này”.
* Đối với việc phân chia di sản thừa kế: Quan điểm của chị A trong
tình huống trên là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật.
Điều 610 Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền
để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di
chúc hoặc theo pháp luật”.
Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo
thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ,
mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại,
bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết
mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết;
bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của
người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt
ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những
người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế,
nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản,
bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Do đó: (1) theo khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự năm 2015, số tiền phúng viếng
200.000.000 đồng là tài sản có được sau thời điểm mở thừa kế, không phải là tài
sản của ông L nên số tiền này không phải là di sản thừa kế, không thực hiện
phân chia đối với số tiền này là phù hợp; (2) Theo điểm a khoản 1 Điều
651 Bộ luật dân sự năm 2015, chị A, anh B, anh T và bà N cùng thuộc hàng thừa kế
thứ nhất của ông L nên chị A, anh B, anh T và bà N sẽ được hưởng phần di sản bằng
nhau, yêu cầu của chị A xác định lại phần giá trị tài sản mà mình được hưởng từ
02 căn nhà là phù hợp.
- Vận dụng đạo lý: “Anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”.
4. Hướng
giải quyết:
Phân tích cho bà N, anh B, anh T hiểu việc không phân chia cho chị A phần
tài sản là 02 căn nhà mà ông L để lại là không đúng quy định về hàng thừa kế và
quyền bình đẳng của những người cùng hàng thừa kế theo điểm a khoản 1, khoản 2
Điều 651 và Điều 610 Bộ luật dân sự năm 2015 và đạo lý của người Việt
Nam “Anh em như thể tay chân, rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần”;
đồng thời, phân tích cho chị A hiểu số tiền phúng viếng 200.000.000 đồng
là tài sản có được sau thời điểm mở thừa kế, không phải là tài sản của ông L
nên số tiền này không phải là di sản thừa kế, không thực hiện phân chia đối với
số tiền này là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự
năm 2015.
Giải thích, động viên bà N cùng các con lựa chọn phân chia tài sản do ông L
để lại “02 căn nhà và 300 triệu đồng” hài hòa, ai cũng có phần, giữ gìn tình cảm
gia đình, tránh vì tiền bạc mà mẹ con, anh em xa lìa.
Tình huống 3: Tranh chấp chậm tiếp nhận, hoãn thực hiện nghĩa vụ dân sự
Nội dung: Gia đình ông P chuẩn bị cưới vợ cho con trai nên đặt bà N nuôi 02 con lợn
trong 06 tháng để phục vụ đám cưới. Giá lợn “hơi” là 90.000 đồng/kg. Ông P đưa
trước cho bà N 02 triệu đồng để mua cám. Gần đến thời gian bắt lợn, do nhà gái
yêu cầu lùi đám cưới chậm lại 01 tháng nên ông P đề nghị bà N tiếp tục nuôi lợn
thêm 01 tháng nữa. Bà N cho rằng, nuôi thêm 01 tháng thì lợn không tăng thêm
cân mà chỉ ăn tốn cám, vì vậy yêu cầu tăng giá lợn “hơi” thêm 5.000 đồng/kg
thành 95.000 đồng/kg. Nếu không đồng ý thì bà N trả lại 02 triệu đồng tiền cám
và sẽ bán lợn cho người khác. Ông N không đồng ý nên hai bên xảy ra tranh chấp.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân:
Mâu thuẫn xuất phát từ việc ông P thỏa thuận với bà N đặt cọc trước cho bà
N 02 triệu đồng để mua cám nuôi lợn trong 06 tháng rồi sau đó bán cho ông với
giá lợn “hơi” là 90.000 đồng/ký để phục vụ đám cưới cho con trai ông, nhưng gần
đến thời gian bắt lợn thì do nhà gái lùi ngày cưới chậm 01 tháng nên ông P đề
nghị bà N tiếp tục nuôi lợn thêm 01 tháng nữa. Bà N cho rằng nuôi thêm 01 tháng
thì lợn không tăng thêm cân mà chỉ tốn cám, vì vậy yêu cầu tăng giá lợn “hơi” từ
90.000 đồng/kg lên thành 95.000 đồng/kg. Ông P không đồng ý và xảy ra tranh chấp.
2. Phân
tích
Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp việc mua bán
lợn giữa ông P và bà N được giao kết, thực hiện thì số tiền đặt cọc 02 triệu đồng
có thể được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu ông P từ chối việc
mua bán lợn thì số tiền 02 triệu này thuộc về bà N; nếu bà N từ chối việc mua
bán lợn thì phải trả cho ông P 02 triệu tiền đặt cọc và một khoản tiền tương
đương giá trị tài sản đặt cọc là 02 triệu nữa. Vì vậy trong trường hợp
02 bên không thỏa thuận được việc mua bán và bà N đòi trả lại 02 triệu
đồng tiền cám và sẽ bán lợn cho người khác là không đúng, nếu trả tiền cọc thì
phải trả 04 triệu cho ông P.
Sự việc lùi đám cưới là sự kiện phát sinh ngoài ý muốn (nhưng lại từ phía
ông An), không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn, vì vậy theo quy định
của Bộ luật dân sự năm 2015 thì ông P phải thông báo ngay cho bà N biết và đề
nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ (mua lợn) và theo quy định thì ông P chỉ
được hoãn việc mua lợn, nếu được bà N đồng ý. Nhưng bà N chỉ đồng ý khi giá lợn
bán được tăng lên là 95.000 đồng/kg.
3. Hướng
giải quyết
Do các bên không tự thỏa thuận được nên Hòa giải viên có thể đưa ra 02 phân
tích phương án để các bên lựa chọn như sau:
- Một là, đến thời điểm 6 tháng, ông P mua lợn với giá 90.000đ/kg, sau đó
có thể gửi giữ lợn tại nhà bà N 01 tháng và thanh toán chi phí hợp lý cho việc
gửi giữ theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. (Khoản 2 Điều 355 quy định:
“Trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có nghĩa vụ
có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết
khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường
hợp tài sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền”). Trong
trường hợp bà N khăng khăng không muốn gửi giữ lợn thêm 01 tháng thì ông P có
thể đem lợn đi gửi giữ nơi khác và tất nhiên chi phí phát sinh do ông P chịu.
Trường hợp này sẽ mất đi tình làng nghĩa xóm. Phương án tốt nhất là thuyết phục
bà N nên hoàn thành việc mua bán ban đầu (giá 90.000đ/kg) và nhận nuôi giữ thêm
01 tháng với chi phí hợp lý.
- Hai là, bà N không thực hiện việc mua bán lợn với giá 90.000đ/kg mà vẫn
muốn bán với giá 95.000đ/kg sau 01 tháng nuôi thêm và ông P vẫn không chịu, như
vậy bà N phải trả lại tiền cọc cho ông P là 04 triệu đồng. Việc này cũng dẫn đến
sức mẻ tình cảm.
Hòa giải viên cần giải thích để hai bên hiểu rõ và lựa chọn phương án tối
ưu nhất, đồng thời thuyết phục hai bên bằng đạo lý như: Việc ông P gửi gắm việc
nuôi heo đám cưới con cho bà N thể hiện sự tin tưởng, tình hàng xóm thân
thiết giữa hai nhà, vì vậy bà N thông cảm và chia sẽ với ông P việc lùi đám cưới
là ngoài ý muốn, ông P cũng cần phải hiểu rằng ông đang cần sự giúp đỡ của bà N
trong việc nuôi giữ lợn thêm 01 tháng và việc ông trả chi phí cho bà N là hoàn
toàn hợp với đạo lý, phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Tình huống 4: Tranh chấp di sản thừa kế bằng di chúc miệng
Nội dung: Bà
Trường có một người con trai ruột là anh Triển (chồng bà Trường đã mất khi anh
Triển mới được 01 tuổi). Khi còn sống, trong đám giỗ bố, bà Trường có nói là
cho bà Hiền (em gái ruột bà Trường) 100m2 đất sau vườn để dựng
nhà ở với điều kiện không được bán cho người khác. Ba tháng sau bà Trường mất
do mắc bệnh hiểm nghèo. Bà Hiền yêu cầu anh Triển chia tài sản theo di chúc miệng
bà Trường đã nói trong đám giỗ. Anh Triển không đồng ý, tranh chấp xảy ra.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân:
Giữa bà Hiền và anh Triển đã xảy ra mâu thuẫn về việc
bà Hiền đòi chia tài sản của bà Trường để lại theo di chúc miệng
2. Phân tích:
Theo quy định của pháp luật việc bà Hiền cho rằng bà Trường (chị ruột bà Hiền) đã để lại di chúc miệng cho bà 100m2 đất
sau vườn và sau khi bà Trường chết bà đòi chia tài sản của bà Trường là không có cơ sở.
3. Căn cứ giải quyết:
Điều 629 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc miệng như sau:
“1. Trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và
không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng.
2. Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập
di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ”.
Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về di chúc hợp pháp như
sau:
“Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng
thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay
sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép
lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người
di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc
cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng”
4. Hướng
giải quyết:
Hòa giải viên căn cứ vào các quy định nêu trên để giải thích và phân tích
cho bà Hiền hiểu rõ về quy định về di chúc miệng và di chúc miệng hợp pháp. Về
việc lập di chúc miệng, người để lại di chúc chỉ được lập di chúc miệng
khi rơi vào các hoàn cảnh như tai nạn, bị cái chết đe dọa,... mà không thể lập
di chúc bằng văn bản nhưng có nguyện vọng để lại di sản cho những người thừa kế, như
vậy trong trường hợp này bà Trường trong lúc dự đám giỗ mà nói ra ý định của
mình, lúc đó bà không rơi vào hoàn cảnh bị cái chết đe dọa, bên cạnh
đó di chúc miệng của bà Trường cũng không hợp pháp.
Tình huống 5: Tranh chấp về việc hàng xóm chừa lối đi chung
Nội dung: Ông
Thành có 03 người con và có thửa đất diện tích 130m2, chiều rộng
6,5m, chiều dài 20m. Ông dự định tách thửa đất chia đều cho 03 người con. Theo
quy định của thành phố H, các thửa đất được hình thành từ việc tách thửa phải đảm
bảo chiều rộng 03m trở lên (so với chỉ giới xây dựng), diện tích không nhỏ hơn
30m2. Vì vậy nếu chia 03 thửa, phần đất phía trong sẽ không có lối
đi. Tuy nhiên, phần đất trong cùng này liền kề với ngõ đi chung của bà Hồng,
ông Mỹ. Ông Thành đặt vấn đề trả bà Hồng, ông Mỹ 20 triệu đồng để được sử dụng
chung ngõ đi này nhưng không được chấp nhận, hai bên phát sinh mâu thuẫn.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân:
Giữa ông Thành và bà Hồng, ông Mỹ xảy ra mâu thuẫn về
sử dụng ngõ đi chung khi ông Thành dự định tách thửa cho 03 người con.
2. Phân tích và căn cứ giải quyết
Theo quy định pháp luật, ông Thành có quyền yêu cầu
chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của
họ, nghĩa là ông Thành có quyền yêu cầu bà Hồng, ông Mỹ cho sử dụng chung lối
đi trên phần đất của bà Hồng, ông Mỹ.
Khoản 1 Điều 29 Luật Đất đai năm 2024 quy định “Quyền đối với thửa đất liền kề bao gồm quyền về lối
đi; cấp nước, thoát nước;
tưới nước, tiêu nước trong canh tác; cấp khí ga; lắp đường dây tải điện, thông
tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác theo quy định của pháp luật.”.
Điều 245 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:“ Quyền đối với bất động sản liền kề là quyền được
thực hiện trên một bất động sản (gọi là bất động sản chịu hưởng quyền) nhằm phục
vụ cho việc khai thác một bất động sản khác thuộc quyền sở hữu của người khác
(gọi là bất động sản hưởng quyền)”.
Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Quyền
về lối đi qua:
“Chủ sở
hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà
không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất
động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.
Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi
là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích
của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có
mở lối đi.
Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền
bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”
3. Hướng giải quyết:
Khi ông Thành dự định tách thửa đất của mình thành 03 thửa cho 03 con thì phần đất bên trong sẽ không có lối đi,
tuy nhiên phần đất này lại liền kề với ngõ đi chung của bà Hồng, ông Mỹ nên ông
Thành đã đặt vấn đề trả bà Hồng, ông Mỹ 20 triệu để được sử dụng ngõ đi chung.
Hòa giải viên phân tích cho bà Hồng, ông Mỹ hiểu việc ông Thành yêu cầu được sử
dụng chung ngõ đi chung là theo quy định pháp luật, từ đó động viên, thuyết
phục bà Hồng, ông Mỹ đồng ý nhận số tiền mà ông Thành đền bù để các bên cùng
vui vẻ, gắn bó với nhau, để hàng xóm lại “Tối lửa tắt đèn có nhau”.
Tình huống 6: Xác lập quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc
Nội dung: Ngay sau khi phát hiện có 20 con gà khác lạc vào đàn,
chị Nhị đã hỏi các gia đình có nuôi gà xung quanh và báo với Tổ trưởng tổ dân
phố nhưng không thấy gia đình nào đến nhận gà. Mười ngày sau, chị Thủy là người
tổ dân phố bên cạnh đến tìm chị Nhị, nói là bị mất 20 con gà, muốn nhận lại số
gà lạc và toàn bộ số lượng trứng mà 20 con gà đã đẻ trong thời gian chị Nhị tạm
thời nuôi giữ. Chị Nhị không đồng ý trả lại gà và trứng cho chị Thủy vì cho rằng
đàn gà đã lẫn vào nhau, không biết đâu là gà của chị Thủy, hơn nữa chị Nhị đã tốn
tiền và công nuôi giữ, chăm sóc gà trong 10 ngày qua nên số gà và trứng phải là
của chị. Không ai chịu nhường ai, hai bên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã và nặng lời
với nhau.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác định mâu thuẫn, nguyên nhân:
Mẫu thuẫn giữa bà Nhị và bà Thủy trong việc xác lập
quyền sở hữu đối với gia cầm bị thất lạc, thuộc lĩnh vực dân sự là do bà Nhị và
bà Thủy chưa hiểu hết quy định của pháp luật về xác lập quyền sở hữu đối với
gia cầm bị thất lạc.
2. Phân tích và căn cứ giải quyết:
Bà Nhị khi phát hiện có 20 con gà khác lạ bị lạc vào
đàn gà nhà bà, bà đã báo với Tổ trưởng tổ dân phố để thông báo cho chủ sở hữu
biết nhận lại. Trong thời gian chờ chủ sở hữu nhận lại thì bà đã bỏ công nuôi
dưỡng 20 con gà đó. Bà Thủy là chủ sở hữu 20 con gà bị lạc, khi bà Thủy nhận lại
gà thì đòi bà Nhị trả lại toàn bộ số lượng trứng gà trong mười ngày bà Nhị nuôi
dưỡng là không hợp lý, mà theo quy định của pháp luật bà Thủy phải thanh toán
tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho người bắt được gia cầm là bà Nhị. Về
phía bà Nhị phải trả lại 20 con gà bị lạc cho bà Thủy là chủ sở hữu gia cầm bị
thất lạc.
- Điều 232 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Trường hợp gia cầm của một người bị thất
lạc mà người khác bắt được thì người bắt được phải thông báo công khai
để chủ sở hữu gia cầm biết mà nhận lại. Sau 01 tháng, kể từ ngày thông
báo công khai mà không có người đến nhận thì quyền sở hữu đối với gia
cầm và hoa lợi do gia cầm sinh ra trong thời gian nuôi giữ thuộc về người
bắt được gia cầm.
2. Trường hợp chủ sở hữu được nhận lại gia cầm
bị thất lạc thì phải thanh toán tiền công nuôi giữ và chi phí khác cho
người bắt được gia cầm. Trong thời gian nuôi giữ gia cầm bị thất lạc, người bắt
được gia cầm được hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra và phải bồi thường thiệt hại
nếu có lỗi cố ý làm chết gia cầm.”
- Đạo lý: “Có qua có lại mới toại lòng nhau”; “Một điều
nhịn, chín điều lành”.
3. Hướng giải quyết:
- Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành
hòa giải trên cơ sở quy định Bộ luật Dân sự năm 2015 về xác lập quyền sở hữu
đối với gia cầm bị thất lạc nêu trên. Hòa giải viên cần:
Giải thích cho bà Thủy hiểu theo quy định pháp luật về
dân sự khi bà nhận lại gà bị thất lạc phải thanh toán tiền công nuôi dưỡng và
các chi phí phát sinh khác cho bà Nhị và trong thời gian nuôi dưỡng đó bà Nhị
được quyền hưởng hoa lợi do gia cầm sinh ra, có nghĩa là hưởng số trứng do 20
con gà bị thất lạc sinh ra.
Giải thích cho bà Nhị hiểu theo quy định pháp luật về
dân sự thì bà phải trả lại 20 con gà bị lạc cho bà Thủy là chủ sở hữu gia cầm bị
thất lạc, vì sau 01 tháng, kể từ ngày thông báo công khai mà không có người đến
nhận thì quyền sở hữu đối với gia cầm mới thuộc về người bắt được gia cầm là
bà. Trong trường hợp này, sau 10 ngày bà Thủy là chủ sở hữu gia cầm bị thất lạc
đã đến để nhận lại số gà bị thất lạc, do đó theo quy định bà phải trả lại số gà
trên.
Tình huống 7: Quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh tác
Nội dung: Gia đình bà Mùi khai hoang và canh tác thửa đất từ
trước năm 1992 và không tranh chấp với ai. Trước phần đất của nhà bà Mùi là
máng nước công cộng để tưới tiêu chung của ba gia đình. Do bà Mùi phá bờ nhập
diện tích máng nước vào ruộng của gia đình để canh tác, khiến 02 hộ gia đình
phía sau không có nước tưới cây. Vì vậy, giữa gia đình bà Mùi và 02 hộ gia đình
kia mâu thuẫn, tranh cãi to tiếng với bà Mùi.
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn và nguyên nhân
Mâu thuẫn giữa gia đình bà Mùi và 02 hộ gia đình xuất
phát từ việc sử dụng máng nước công cộng không đúng của bà Mùi, do bà Mùi phá bờ
của máng nước công cộng để tưới tiêu chung của ba gia đình, nhập diện tích máng
nước này vào ruộng của gia đình bà để canh tác, khiến 02 hộ gia đình phía sau
không có nước tưới cây.
2. Phân tích và căn cứ giải quyết
Việc bà Mùi phá bờ nhập diện tích máng nước công cộng
vào ruộng của gia đình để canh tác, khiến 02 hộ gia đình phía sau không có nước
tưới cây là không đúng, đây là máng nước công cộng để tưới tiêu chung của ba
gia đình. Bà Mùi có thể bị buộc phải bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy
ra từ việc không có nước tưới cây có thể dẫn đến gây thiệt hại, tổn thất cây cối
.
Theo Điều 253 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền
về tưới nước, tiêu nước trong canh tác: “Người có quyền sử dụng đất
canh tác khi có nhu cầu về tưới nước, tiêu nước, có quyền yêu cầu những người sử
dụng đất xung quanh để cho mình một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc
tưới, tiêu; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó; nếu người sử dụng
lối dẫn nước gây thiệt hại cho người sử dụng đất xung quanh thì phải bồi thường”.
3. Hướng
giải quyết
Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải
trên cơ sở quy định trên của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền về tưới nước,
tiêu nước trong canh tác để phân tích các bên hiểu rõ về quyền lợi, trách nhiệm
của mỗi bên trong vụ việc và các bên thỏa thuận việc giải quyết các mâu thuẩn,
tranh chấp và tự nguyện thực hiện thỏa thuận đó. Đề nghị gia đình bà Mùi để cho
02 hộ phía sau một lối dẫn nước thích hợp, thuận tiện cho việc tưới ruộng; đồng
thời gia đình bà Mùi khi sử dụng lối dẫn nước phải đảm bảo không làm ảnh hưởng
đến ruộng của 02 hộ gia đình phía sau, nếu gây thiệt hại phải bồi thường theo
quy định.
Hòa giải viên cần nêu truyền thống tốt đẹp về tình
làng nghĩa xóm “ở nhà có láng giềng nhà, ở đồng có láng giềng đồng” và thuyết
phục các bên không để xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột dẫn đến hậu quả
thiệt hại xảy ra cho cả đôi bên. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận,
hòa giải viên hướng dẫn các bên đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết
theo quy định của pháp luật.
Tình huống 8: Phòng, chống bạo lực gia đình
Nội dung: Vợ
chồng anh Nô và chị Ca đã kết hôn được ba năm và có một con 5 tuổi.
Cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, anh Nô chăm chỉ làm ăn, thương vợ, yêu con. Vừa
qua có bạn rủ hùn vốn làm ăn, anh Nô đã dồn hết tiền tiết kiệm của cả hai vợ chồng
để đầu tư kinh doanh. Do làm ăn thua lỗ mất tiền nên chị Ca đã quay sang chì
chiết chồng. Anh Nô sinh chán nản, rượu, chè, cứ uống rượu vào thì anh Nô lại
lôi chị Ca ra chửi bới … khiến cuộc sống ngày càng bế tắc. Đỉnh điểm hôm qua,
sau khi uống rượu, anh Nô lại to tiếng, quát mắng chị Ca rồi lao vào đánh vợ, vụ
việc chỉ dừng lại khi bố mẹ anh Nô phát hiện và can ngăn. Sau sự việc này, tình
cảm của hai vợ chồng rạn nứt, chị Ca đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ.
Gợi ý xử lý tình huống
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân
Mâu thuẫn giữa anh Nô và chị Ca là do anh Nô dùng hết tiền tiết kiệm của
hai vợ chồng đầu tư làm ăn nhưng bị thua lỗ mất tiền, chị Ca xót của nên quay
sang chì chiết chồng khiến anh B chán nản, mượn rượu giải sầu và có rượu vào là
lôi chị Ca ra chửi mắng, cao điểm đến một ngày đã đánh và gây thương tích cho
chị Ca, khiến chị Ca bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở.
2. Phân
tích và căn cứ giải quyết:
Việc anh Nô và chị Ca chửi mắng qua lại lẫn nhau, anh Nô còn đánh vợ, chị
Ca không ở cùng chồng mà bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở là vi phạm pháp luật về hôn nhân
gia đình và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định về tình nghĩa vợ
chồng: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan
tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong
gia đình”.
Hành vi của anh Nô có thể bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại khoản
2 Điều 37, khoản 1 Điều 39 Nghị định 282/2025/NĐ-CP (ngày 30/10/2025 của Chính
phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an
toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống bạo lực gia đình) cụ thể:
“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng
đến 10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến
sức khỏe, tính mạng thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự”
“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
10.000.000 đồng đối với hành vi lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc
phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 Điều này”
Tại Điều 134 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đối với
hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà mà
có tỷ lệ tổn thương từ 11% trở lên sẽ bị xử lý hình sự về tội này.
3. Hướng
giải quyết:
Hòa giải viên cần khuyên nhũ vợ chồng anh Nô và chị Ca nên thông cảm, hiểu,
chia sẽ và tha thứ cho nhau, giữa hai anh chị còn có 01 đứa con thơ đang cần sự
chăm sóc, nuôi dưỡng, yêu thương từ hai vợ chồng anh chị. Anh Nô trước đây cũng
là người chồng có trách nhiệm, lo làm ăn, biết yêu thương vợ con. Anh Nô đem tiền
tiết kiệm của hai vợ chồng đi hùn vốn làm ăn là đã có sự đồng ý của chị Ca,
cũng với mong muốn là lo cho gia đình được tốt hơn, có cuộc sống khấm khá hơn,
nhưng việc làm ăn thất bại xảy ra là rủi ro ngoài ý muốn, bản thân anh Nô cũng
đã buồn khổ lắm chứ đâu phải mỗi chị Ca vì đây là tiền chung của 02 vợ chồng
mà. Lẽ ra chị Ca nên động viên, kề vai sát cánh với anh Nô vì “Thuận vợ, thuận
chồng tát biển Đông cũng cạn”, nhưng đáng tiếc là chị lại làm điều ngược lại là
chì chiết, mắng chửi anh Nô, từ đó tính tình anh Nô thay đổi, thêm vào đó là rượu
vào lời ra, lời nói sẽ không còn chuẩn mực và hành vi cũng không còn được kiềm
chế, kiểm soát dẫn đến hành vi bạo lực gia đình là đánh đập chị Ca, đây là hành
vi sai trái nhất của anh Nô, anh cần tự kiểm điểm nghiêm khắc bản thân, thành
thật xin lỗi, không bao giờ được tái phạm hành vi này nữa và đón chị Ca về nhà
để cả nhà đoàn tụ, yêu thương như xưa.
Tình huống 9: Tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn
Nội dung: Trong thời kỳ hôn nhân, Chị H và anh P có một con chung là bé N. Sau một thời
gian sinh sống, do không còn tình cảm, mâu thuẫn gia đình cứ âm thầm dồn nén
ngày một nặng nề, hai anh chị đã nộp đơn ly hôn lên Tòa án để giải quyết. Do
trước đây, Chị H không có công ăn việc làm, không có chỗ ở, nên Tòa đã giao quyền
nuôi con cho anh P. Tuy nhiên, thời gian gần đây, anh P bỏ bê, không chăm
sóc con cái nên chị H đề nghị anh giao con cho mình nuôi, vì chị cũng đã
có việc làm. Nhưng anh H không chịu, vì thế hai người nảy sinh mâu thuẫn trong
việc giành quyền nuôi con.
1. Xác
định mâu thuẫn và nguyên nhân
Mâu thuẫn giữa chị H và anh P trong việc giành quyền nuôi con sau khi ly
hôn, đây là trường hợp “Tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn”.
2. Phân
tích và căn cứ giải quyết
Giữa chị H và anh P có 01 đứa con chung là bé N, sau khi ly hôn thì bé N do
anh H nuôi (do Tòa quyết định) do chị H không có chỗ ở, không có việc làm thu
nhập ổn định để nuôi con. Nhưng thời gian gần đây, anh P bỏ bê, không chăm sóc
né N dẫn đến quyền lợi của bé Na không được bảo đảm.
Khoản 1 Điều 70 (Quyền và nghĩa vụ của con) Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định: “Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền,
lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học
tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức”.
Lúc này đây, hòa giải viên cần tiếp cận ngay để tìm hiểu vì sao anh P lại bỏ
bê, không chăm sóc bé N, vì công việc bận rộn, không thể sắp xếp hay vì nguyên
nhân nào khác.
Việc bỏ bê, không chăm sóc con của anh P có thể thuộc trường hợp quy định tại
điểm b khoản 2 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực
tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” là một trong
những căn cứ để cơ quan chức năng quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Và theo quy định này, Chị H có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân giải quyết
về việc thay đổi quyền trực tiếp nuôi con. Khi chị H chứng minh được nơi cư
trú, thu nhập ổn định của mình và việc người chồng không thực hiện việc chăm
sóc, nuôi dưỡng con. Tuy nhiên, trong trường hợp này nếu bé N đủ 7 tuổi trở lên
phải xem xét nguyện vọng của bé.
3. Hướng
giải quyết
Hòa giải viên sau khi tìm hiểu kỹ nguyên nhân vì sao dạo này anh P bỏ bê,
không chăm sóc con, nếu anh vẫn thương yêu, lo lắng cho con nhưng vì thời gian
này bận rộn công việc không chăm sóc chu đáo được cho bé N thì chị H cần phải
thông cảm và cho anh P thời gian khắc phục vì việc giao con cho anh P nuôi đã
có quyết định có hiệu lực của Tòa án và anh hoàn toàn có quyền này. Trường hợp
anh P thật sự bỏ bê, không chăm sóc, không bảo đảm được quyền lợi của bé Na thì
anh P cần đồng ý việc thỏa thuận với chị H về việc thay đổi người trực tiếp
nuôi con là chị để phù hợp với lợi ích của con (vì lúc này chị đã có việc làm
có chỗ ở ổn định), trường hợp không thỏa thuận được thì chị H có quyền yêu cầu
Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, căn cứ vào việc anh P -
người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con, như trên đã đề cập cần lưu ý tuổi của bé N khi bé đã
đủ 07 tuổi thì phải xem xét nguyện vọng của bé N.
Hòa giải viên cần khuyên giải những người làm cha, làm mẹ như anh P và chị
H cần phải có sự thấu hiểu, có cái nhìn từ cảm nhận của bé N. Lẽ ra bé phải được
như bao trẻ em khác là được sống trong tình thương đủ đầy của cha mẹ, trong
cùng một gia đình và dưới cùng một mái ấm, nhưng bé chỉ được sống với cha, mà
cha lại không quan tâm, chăm sóc, mẹ thì thương nhưng lại không thể trực tiếp
nuôi bé. Những đứa trẻ như bé N thật là đáng thương, bé cần được tình thương
nhân đôi nhân ba để lấp đi những thiếu thốn về tình cảm ấy. Vì vậy, mọi quyết định
xin hãy vì là lợi ích tốt nhất cho bé Na.
Tình huống 10: Nghĩa vụ chung của vợ chồng
Nội dung: Anh
A và chị B kết hôn đã ba năm và có một con trai rất. Anh A chăm chỉ
làm ăn, lo đầy đủ cuộc sống gia đình. Tuy nhiên, anh lại rất mê cây cảnh,
không để ý gì đến việc chăm sóc cái. Chị B là người hiền lành, nhẫn nại, yêu
chồng thương con. Một hôm, con trai bị viêm phổi phải đi cấp cứu, gọi điện
thoại cho chồng nhưng anh A không về, một mình chị B xoay xở trong bệnh
viện. Đến tối, chị về nhà lấy thêm đồ thì thấy chồng cũng vừa về tới
nhà thì gặp Anh A mang theo một chậu lan về, chị B vô cùng tức giận dùng tay
đẩy chậu lan vỡ tan tành. Anh A quá bất ngờ, quay sang tát chị. Hai
người to tiếng với nhau, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng xảy ra nhiều ngày,
không bên nào chịu nhường bên nào.
1. Xác
định mâu thuẫn và nguyên nhân dẫn
Mâu thuẫn giữa anh A và chị B đó là anh A là chồng, là cha nhưng thiếu
trách nhiệm, nghĩa vụ chăm sóc thành viên gia đình; nhất là thiếu sự quan tâm,
chăm sóc con nhỏ lúc ốm đau; vì lo lắng con bị cấp cứu, gọi điện thì chồng
không về nên chị B đã bức xúc đẩy vỡ chậu cây cảnh yêu thích của anh A, dẫn đến
anh A tát chị B, gây nên sự mâu thuẫn rạn nứt trong gia đình vợ chồng anh A và
chị B.
2. Phân
tích và căn cứ giải quyết
Việc anh A mê cây cảnh mà bỏ bê không để ý gì đến việc chăm sóc con cái, thậm
chí khi con bị viêm phổi phải nhập viện và vợ mình đã điện thoại báo tin nhưng
A vẫn không chịu về là không có trách nhiệm của một người làm chồng, làm cha.
Hơn nữa, trong lúc hai vợ chồng cải vả anh lại tát chị B là sai. Và việc chị B
trong lúc nóng giận dùng tay đẩy vỡ chậu lan của chồng là cũng chưa đúng mực.
Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “1. Vợ
chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ
nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.” Và
khoản 1 Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Cha, mẹ có
nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành
niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao
động và không có tài sản để tự nuôi mình”
Như vậy, trong tình huống nêu trên, anh A có ưu điểm là chăm chỉ làm ăn, lo
đầy đủ cuộc sống gia đình, việc anh có sở thích cây cảnh là hoàn toàn chính
đáng nhưng anh lại rất sai sót khi thiếu đi sự chia sẽ, thực hiện các công việc
trong gia đình với chị B.
Việc anh A tát chị B lại càng sai, mặc dù lý do gì thì anh cũng đã có hành
vi bạo lực gia đình, trường hợp đủ yếu tố về hành vi đánh đập gây thương tích
cho chị B thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo khoản 2 Điều 37 Nghị định
số 282/2025/NĐ-CP ngày 30/10/2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội;
phòng, chống bạo lực gia đình cụ thể:“Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến
10.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức
khỏe, tính mạng thành viên gia đình nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự”.
3. Hướng
giải quyết
Là hòa giải viên khi được phân công tiến hành hòa giải trên cơ sở các quy định
của pháp luật về hôn nhân và gia đình, phòng chống bạo lực gia đình, tôi cần gặp
gỡ riêng anh A, nói cho anh biết việc anh chăm chỉ làm ăn, lo đầy đủ cuộc sống
gia đình là rất tốt, anh có sở thích cây cảnh cùng hoàn toàn chính đáng nhưng
anh cần sắp xếp, bố trí thời gian để chia sẽ công việc gia đình vì đó là nghĩa
vụ của anh và cũng là tình thương anh dành cho vợ và con nhỏ, không phải chỉ lo
đầy đủ về kinh tế là xong nghĩa vụ đâu; đồng thời phân tích cho anh A biết việc
anh không để ý gì đến việc chăm sóc con cái và to tiếng, đánh chị B là vi phạm
quy định của pháp luật, vi phạm nghĩa vụ giữa vợ, chồng. Anh có thái độ mềm mỏng,
có sai thì nhận sai, cần rút kinh nghiệm và không được bao giờ lặp lại việc bỏ
bê con cái, đánh vợ nữa.
Sau đó tôi lại gặp gỡ riêng chị B để thuyết phục chị bớt giận, có thể do bất
ngờ và tiếc chậu cây cảnh yêu thích bị vỡ mà anh A bộc phát tát chị thôi, chứ
bình thường ảnh cũng biết chăm lo cho gia đình, nói với chị B rằng anh A có sở
thích cây cảnh là rất tốt, còn hơn là đam mê cái “tứ đổ tường”-rượu chè cờ bạc
gái gú…
Sau đó gặp gỡ cả hai anh chị để thuyết phục thêm lần nữa để anh A chị B hiểu
được vợ chồng phải yêu thương, tôn trọng lẫn nhau và phải có nghĩa vụ cùng nhau
chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cái. Lúc nóng giận không nên cãi vả to tiếng,
hành động thiếu suy nghĩ, Người xưa có câu: “Chồng nóng thì vợ bớt lời, cơm sôi
bớt lửa biết đời nào khê”.
Tình huống 11: Tranh chấp quyền sử dụng đất cấp theo Nghị định 64/CP
Nội dung: Bà N có thửa ruộng với diện tích 525 m2, cấp theo Nghị định 64/CP của Chính
phủ; Chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất trên; năm 1998, vì gia
đình bà N đau ốm thường xuyên không sản xuất được nên cho ông T (là hàng xóm
cũng là bà con họ hàng) mượn để sản xuất. Nay bà N có nhu cầu để lấy lại ruộng
để sản xuất thửa đất trên, thì phát hiện trong quá trình sản xuất ông T đã tự ý
kê khai báo làm sổ đỏ thửa đất ruộng trên đứng tên trong sổ đỏ là tên ông T, mà
chưa có sự đồng ý của bà N, nên giữa bà N và ông T đã xảy ra mâu thuẫn
Gợi ý xử lý tình huống:
1. Xác
định mâu thuẫn, tranh chấp, nguyên nhân
Ông T mượn ruộng của bà N để sản xuất, trong quá trình sản xuất thì ông T
cho rằng thửa ruộng với diện tích 525 m2 ông T đang sản xuất quá lâu nay là
trên 20 năm, nên ông T cho rằng thửa đất ruộng trên là đến nay thuộc quyền quản
lý sử dụng của ông T.
Nguyên nhân thực hiện chương trình đa dạng hóa nông nghiệp nông thôn đã thực
hiện chủ sử dụng đất kê khai việc Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (năm
2006) thửa đất trên để tên ông T.
2. Phân
tích
Bà N có thửa ruộng với diện tích 525 m2, được Nhà nước cân đối, giao khoán
theo Nghị định 64/CP của Thủ tướng Chính phủ thửa đất trên chưa được cấp giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1998, do thường xuyên đau ốm nên bà N cho ông
mượn để sản xuất canh tác. Nay bà N có nhu cầu để lấy lại ruộng để sản xuất,
thì ông T cho rằng thửa đất ông đang sản xuất, canh tác đã được Nhà nước
công nhận và cấp Giấy CNQSD đất nên ông T không đồng ý trả. Nên bà N đã thực hiện
việc đề nghị Văn phòng ĐK ĐĐ tỉnh Q (tỉnh của địa chỉ thửa đất) cung cấp thông
tin, dự liệu phát hiện trong quá trình sản xuất ông T đã tự ý đăng ký, kê khai
và được UBND huyện thuộc tỉnh Q cấp Giấy CNQSD đất tại thửa đất nêu trên mà
chưa có sự ý kiến, đồng ý của bà N, nên giữa hai bên đã xảy ra mâu thuẫn
phát sinh tranh chấp.
Sau khi xem xét nội dụng đơn bà N, căn cứ theo bộ giao khoán theo Nghị Định
64/CP của Chính phủ cho hộ gia đình bà N lập năm 1993.
Qua kiểm tra sao lục và đối chiếu hồ sơ, tài liệu liên quan đến thửa ruộng
với diện tích 525 m2 cấp sổ đỏ cho ông T đứng tên trong sở đỏ là không đúng, đề
nghị thu hồi sổ đỏ trên ông T đang đứng tên và xem xét chỉ công nhận thửa ruộng
với diện tích 525 m2 cho bà N.
3. Căn
cứ giải quyết
Căn cứ theo bộ giao khoán theo Nghị Định 64/CP của Chính phủ cho hộ gia
đình bà N lập năm 1993; đề nghị thu hồi sổ đỏ thửa ruộng với diện tích 525 m2 đứng
tên ông T và xem xét chỉ công nhận thửa ruộng với diện tích 525 m2 cho bà N.
Tình nghĩa “Hàng xóm tắt lửa tối đèn có nhau”.
4. Hướng
giải quyết
Căn cứ mâu thuẫn, tranh chấp, nguyên nhân, phân tích vụ việc và theo bộ
giao khoán theo Nghị Định 64/CP của Chính phủ cho hộ gia đình bà N lập năm
1993, thì việc ông T cho rằng thửa đất ruộng trên là đến nay thuộc quyền quản
lý sử dụng của ông T là không đúng quy định của pháp luật; theo quy định của
pháp luật nhà nước sẽ công nhận thửa ruộng với diện tích 525 m2 cho bà N, đồng
thời vận dụng tình nghĩa “Hàng xóm tắt lửa tối đèn có nhau” để vận động ông T
chấp hành, đồng ý trả lại đất cho bà N để giữ gìn tình làng, nghĩa xóm.
Tình huống 12: Tranh chấp trong việc sử dụng hoa lợi, lợi tức thu
được từ tài sản riêng
Nội dung: Anh Tý và Chị Lan là vợ chồng. Sau khi kết hôn, chị
Lan được mẹ cho một mảnh đất. Vợ chồng chị Lan có trồng hoa
màu và chăn nuôi trên một phần của mảnh đất này, còn một phần mảnh đất thì
cho thuê lấy tiền. Chị Lan đã sử dụng các khoản tiền thu được từ mảnh
đất này vào việc riêng. Anh Tý cho rằng chị Lan tự ý chi tiêu, không
tôn trọng mình và xảy ra cãi vả; anh Tý còn yêu cầu chị Lan phải làm
thủ tục để tên mình vào sổ đỏ vì đây là tài sản được tặng cho sau thời
kỳ hôn nhân, tuy nhiên chị Lan không đồng ý và nói rằng đây là tài sản chị
được mẹ đẻ cho riêng. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng gây mất tình
cảm gia đình và mất trật tự trong cộng đồng.
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân
* Mâu thuẫn: Anh Tý và chị Lan mâu thuẫn nhau trong việc sử dụng hoa lợi,
lợi tức thu được từ tài sản riêng của chị Lan và quyền sử dụng đất được tặng
cho riêng.
* Nguyên nhân: Anh Tý cho rằng chị Lan sử dụng tiền có được từ việc thu hoa lợi từ sản
xuất, chăn nuôi và cho thuê đất từ tài sản riêng của chị vào việc
riêng là không đúng, đồng thời anh yêu cầu được đứng tên vào sổ đỏ vì
tài sản có được trong thời kỳ hôn nhân nhưng chị Lan không đồng ý vì chị
Lan cho rằng hoa lợi, lợi tức có được từ tài sản riêng là của
riêng chị, và quyền sử dụng đất là tài sản được cho riêng.
2. Phân
tích
Tài sản được tặng cho riêng là tài sản riêng của mỗi người, vì vậy
việc anh Tý yêu cầu được đứng tên trên sổ đỏ mà chị Lan được tặng
cho riêng là không đúng quy định (trừ trường hợp chị Lan đồng ý). Tuy
nhiên, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng là tài sản chung của vợ chồng,
do vậy, việc chị Lan sử dụng tiền thu được từ việc trồng hoa màu, chăn nuôi và
cho thuê đất vào việc riêng là không đúng.
3. Căn
cứ giải quyết
+ Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014 quy định: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương
yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ,
thực hiện các công việc trong gia đình”
+ Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản
chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt
động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng
và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định
tại khoản 1 Điều 40 của Luật này ...”;
+ Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản
riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được
thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; ...”
4. Hướng giải
quyết
Tổ hòa giải mời vợ chồng anh Tý và chị Lan đến để hòa giải, trên cở sở các
quy định của pháp luật phân tích đúng sai cho anh Tý và chị Lan rõ các quyền và
nghĩa vụ của mình. Đồng thời, phân tích đạo lý về tình nghĩa vợ chồng cần tôn
trọng, yêu thương, chăm sóc và chia sẻ lẫn nhau trong cuộc sống.
Tình huống 13: Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật,
trái đạo đức xã hội
Nội dung: Sau khi kết hôn vợ chồng ông Sơn, bà Hòa có mua một mảnh đất và đứng tên
hai vợ chồng. Một thời gian sau, ông Sơn ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất này cho vợ chồng ông Sin, bà Nuôi với số tiền 950 triệu đồng.
Khi chuyển nhượng ông Sơn không bàn bạc với bà Hòa mà đã tự mình ký
tên Hòa để chuyển nhượng đất cho vợ chồng ông Sin (việc này vợ
chồng ông Sin, bà Nuôi cũng biết). Sau khi chuyển nhượng xong, ông Sơn dùng tiền
chi tiêu vào một số việc gia đình, số còn lại ông lập 01 sổ tiết kiệm (trị giá
800 triệu đồng). Vợ chồng ông Sin, bà Nuôi tiến hành xây dựng nhà trên đất đã
mua, khi đang xây dựng thì bà Hòa phát hiện. Bà Hòa kiên
quyết không “bán đất”, việc ông Sơn mạo chữ ký là vi phạm pháp luật. Bà
Hòa yêu cầu ông Sơn trả tiền cho ông bà Sin, Nuôi. Ông bà Sin,
Nuôi phải thu dọn công trường đang xây dựng để trả lại đất cho bà. Nhưng
ông Sơn và ông Sin, bà Nuôi không đồng ý. Mâu thuẫn giữa các bên gây ẫm ĩ cả
thôn, đâu đâu cũng bàn tán.
1. Xác
định mâu thuẫn, tranh chấp và nguyên nhân:
Mâu thuẫn, tranh chấp xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
trái pháp luật giữa ông Sơn với ông Sin, bà Nuôi. Vì đất này là tài sản chung của
02 vợ chồng nhưng ông Sơn không được sự đồng ý thống nhất của bà Hòa là vợ ông,
sau đó còn giả chữ ký của bà Hòa để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất
này cho vợ chồng ông Sin, bà Nuôi. Đây là giao dịch trái pháp luật liên quan đến
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trường hợp này, vợ chồng ông Sin, bà
Nuôi biết không có sự đồng ý của bà Hòa là đồng sở hữu chung tài sản mà ông Sơn
giả chữ ký của bà Hòa nên ông Sin, bà Nuôi không phải là bên thứ ba ngay tình
được pháp luật bảo vệ; nếu không thỏa thuận được với bà Hòa thì hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất này là vô hiệu, giải quyết hậu quả pháp lý là các bên
trả lại cho nhau những gì đã nhận.
2. Phân
tích và căn cứ pháp lý
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất này có hiệu lực khi có sự đồng ý của
bà Hòa và các bên sẽ tiến hành xác lập hợp đồng đáp ứng điều kiện về hình thức
là công chứng và chứng thực. Các bên có thể đến trực tiếp văn phòng công chứng
hoặc UBND cấp xã nơi có đất để tiến hành lập hợp đồng chuyển nhượng.
Trong trường hợp không thỏa thuận được bà Hòa nhất quyết không “bán đất”
thì bà có quyền yêu cầu Tòa án tuyên giao dịch dân sự vô hiệu, giải quyết hậu
quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu, yêu cầu Tòa án trưng cầu Giám định chữ
ký và chữ viết trong hợp đồng.
Điều 123 Bộ luật dân sự 2015 quy định “Giao dịch dân sự có mục
đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
thì vô hiệu.
Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho
phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.
Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời
sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”.
Điểm a, điểm b, điểm d khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai 2024 quy định: “a) a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản
này; b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền
sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi
quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng, góp vốn bằng quyền sử dụng
đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà
một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động
sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;….d) Việc công chứng, chứng thực thực hiện theo quy định của pháp luật về công chứng, chứng thực.”.
Điểm b khoản 2 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024 quy định “Trường hợp
nhóm người sử dụng đất mà quyền sử dụng đất phân chia được theo phần cho từng
thành viên trong nhóm, nếu từng thành viên của nhóm muốn thực hiện quyền đối với
phần quyền sử dụng đất của mình thì phải thực hiện đăng ký biến động hoặc tách
thửa theo quy định, làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở
hữu tài sản gắn liền với đất và được thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất theo quy định của Luật này.
Trường hợp quyền sử dụng đất của nhóm người sử dụng đất
không phân chia được theo phần thì các thành viên cùng nhau thực hiện hoặc ủy
quyền cho người đại diện để thực hiện quyền và nghĩa vụ của nhóm người sử dụng
đất”.
3. Hướng
giải quyết
Hòa giải viên giải thích cho vợ chồng ông Sin, bà Nuôi hiểu các quy định của
pháp luật về đất đai, dân sự xoay quanh việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất,
đã là tài sản chung của vợ chồng thì vợ chồng phải đồng thuận chuyển nhượng chứ
chồng không thể đại diện ký tên để chuyển nhượng được. Vợ chồng ông bà cần bình
tĩnh, bàn bạc thỏa thuận, phải có sự thống nhất của cả hai vợ chồng bà Hòa, ông
Sơn và các bên tranh chấp cần thực hiện đúng quy định hợp đồng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
Hòa giải viên cũng cần gặp riêng bà Nuôi, ông Sơn để phân tích, nói rõ: việc
ông Sơn không bàn bạc, không thống nhất với bà Hòa mà tự ý định đoạt tài sản
chung của vợ chồng, đồng thời còn giả mạo chữ ký là sai, trái pháp luật. Tuy
nhiên nói để bà Hòa hiểu việc sau khi chuyển nhượng xong, ông Sơn dùng tiền chi
tiêu vào một số việc gia đình, số còn lại ông lập 01 sổ tiết kiệm (trị giá 800
triệu đồng), như vậy về cơ bản số tiền có được từ chuyển nhượng ông Sơn không
dùng riêng mà dùng trang trải cho gia đình, sổ tiết kiện về cơ bản vẫn là tài sản
chung của cả hai vợ chồng, nên bà Hòa cũng không mất mát gì, nếu cứ làm phức tạp
lên thì ảnh hưởng tình cảm vợ chồng, chồng bị mất mặt và “xấu chàng cũng hổ thiếp”.
Mặt khác vợ, chồng ông bà Sin, Nuôi cũng đã thực hiện xây dựng công trình, nếu
phải trao trả lại, khôi phục lại như ban đầu sẽ gây thiệt hại không nhỏ; ngoài
ra nếu cứ bà Hòa cứ một mực đến Tòa án giải quyết thì vừa tốn tiền án phí, vừa
mất công, mất sức và mệt mỏi, người ta nói “vô phúc đáo tụng đình”.
Tình huống 14: Tranh chấp phân chia di sản thừa kế không có di chúc
Nội dung: Vợ chồng ông Dũng - bà Ngọc có một người con trai là Kiên. Ông Dũng
còn có một người con riêng là Cường. Anh Cường đã được ông Dũng hoàn tất các thủ
tục nhận cha, con theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Sau khi ông Dũng mất
(không để lại di chúc), anh Cường yêu cầu được chia thừa kế đối với phần di sản
của ông Dũng để lại (bao gồm nhà và đất mà trước đây ông Dũng và bà Ngọc cùng
chung sức tạo dựng). Bà Ngọc và anh Kiên không đồng ý, vì cho rằng, anh Cường
là con riêng của ông Dũng nên không có quyền hưởng thừa kế, cha, mẹ ông Dũng đã
chết trước ông Dũng, nên chỉ có mẹ con bà mới được hưởng thừa kế của ông Dũng.
Anh Cường không đồng ý nên đã tìm đến tổ hòa giải đề nghị giúp đỡ.
1. Xác định mâu thuẫn, nguyên nhân
* Mâu thuẫn: Mâu thuẫn giữa anh Cường (con riêng của ông Dũng) với bà
Ngọc và anh Kiên trong việc phân chia di sản thừa kế của ông Dũng.
* Nguyên nhân: Sau khi ông Dũng chết, không để lại di chúc, anh Cường
yêu cầu được chia thừa kế đối với phần di sản của ông Dũng để lại nhưng bà Ngọc
và anh Kiên cho rằng anh Cường là con riêng của ông Dũng nên không có quyền được
hưởng thừa kế.
2. Phân tích
Theo quy định của pháp luật, nhà và đất của ông Dũng và bà Ngọc là tài sản
chung của vợ chồng. Khi ông Dũng chết mà không để lại di chúc thì phần tài sản
của ông Dũng trong khối tài sản chung phải được chia thừa kế theo pháp luật.
Anh Cường là con riêng của ông Dũng nên được hưởng thừa kế theo pháp luật và đứng
ở hàng thừa kế thứ nhất, ngang hàng với bà Ngọc và anh Kiên. Do đó, anh Cường
đòi hưởng thừa kế đối với phần di sản của ông Dũng để lại là đúng.
3. Căn cứ giải quyết
* Pháp luật: Điểm a khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm
2015 quy định: Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp: “a)
Không có di chúc”.
Điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Hàng thừa
kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi
của người chết”
Khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Tài sản
chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,
hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và
thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được
quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế
chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung”
* Đạo lý: “Một
giọt máu đào hơn ao nước lã”.
Chồng, vợ, con là mối quan hệ gia đình gắn bó. Tuy anh Cường là con riêng của
ông Dũng nhưng cũng là anh em cùng cha khác mẹ với anh Kiên. Đây là mối quan hệ
máu mủ, ruột thịt không thể chối bỏ được, nên quyền lợi, nghĩa vụ của cha mẹ đối
với con và ngược lại là như nhau, đối với ông Dũng thì anh Cường và anh Kiên
người nào cũng là con nên có sự chia sẽ, thừa hưởng ngang nhau trong khối tài sản
mà người cha để lại.
4. Hướng giải
quyết
Hòa giải viên phân tích cho bà Ngọc và anh Kiên hiểu rõ quy định của pháp
luật (Bộ luật Dân sự; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Nhà và đất mà ông
Dũng và bà Ngọc cùng chung sức tạo dựng là tài sản chung của ông bà. Sau khi
ông Dũng mất thì phần di sản của ông Dũng là 1/2 trong khối tài sản chung
với bà Ngọc; phần của ông chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất gồm
bà Ngọc, anh Kiên và anh Cường, theo quy định của pháp luật dân sự về phân chia
di sản thừa kế.
Về đạo lý, cả anh Kiên và anh Cường đều là con của ông Dũng nên 2 người đều
có quyền hưởng thừa kế ngang nhau. Anh Cường chỉ hưởng phần thừa kế do cha mình
để lại chứ không liên quan đến phần tài sản của bà Ngọc. Anh Kiên và anh Cường
tuy khác mẹ sinh ra nhưng là anh em cùng cha, cần có sự thương yêu và chia sẽ với
nhau. Đừng vì đồng tiền hay tài sản mà mất đi tình anh em.
Tình huống 15: Mâu thuẫn giữa vợ chồng khi gặp khó khăn về kinh tế
Nội dung: Anh Hiệp (35 tuổi) và chị Chi (32 tuổi) đã kết hôn được 06 năm, có 2 bé
gái. Sau khi kết hôn, chị Chi không đi làm mà chỉ ở nhà sinh con và chăm 02 con
(01 bé gần 6 tuổi, 01 bé gần 3 tuổi). Thời gian trước kia gia đình êm ấm nhưng
từ đầu năm 2023 đến nay, công ty anh Hiệp kinh doanh khó khăn nên không cho
nhân viên tăng ca nữa, dẫn đến nguồn thu nhập của anh Hiệp giảm xuống; trong
khi chi phí sinh hoạt gia đình có phần phát sinh tăng lên vì phải chăm bà nội
đau, bé gái đầu đến độ tuổi vào tiểu học… Anh Hiệp sinh ra tính tình hay cáu gắt,
quát tháo vợ, anh cho rằng mình là người làm ra tiền, trụ cột kinh tế chính,
còn vợ thì không làm ra tiền nên khinh thường chị; không cho chị Chi tham gia ý
kiến trong gia đình. Dẫn đến chị Chi bức xúc, lại có thêm suy nghĩ anh Hiệp có
cặp bồ bên ngoài, mong có con trai nên chán ghét mình. Vợ chồng thường xuyên
cãi vã, chửi bới, đỉnh điểm là lúc không kiềm chế được, anh Hiệp đã có hành động
đánh chị Chi, cuộc sống gia đình rất căng thẳng mà còn làm ảnh hưởng làng xóm
xung quanh.
1. Xác
định mâu thuẫn, nguyên nhân
Xuất phát từ vấn đề kinh tế trong gia đình gặp khó khăn, anh Hiệp nghĩ rằng
mình là người làm ra tiền, chị vợ không có việc làm, không làm ra tiền nên
không tôn trọng vợ, thường to tiếng, cáu gắt với vợ. Chị vợ thấy vậy sinh ra
suy nghĩ chồng ngoại tình, mình sinh 02 đứa con gái nên chồng muốn đi tìm con
trai mới chán ghét mình. Từ đó, cuộc sống vợ chồng thường xuyên cãi vã, to tiếng
với nhau, thậm chí lúc bực bội không kiềm chế bản thân được, anh Hiệp đã có
hành động đánh chị Chi; cuộc sống gia đình “cơm không lành, canh không ngọt”,
ngày càng nặng nề.
2. Căn
cứ giải quyết tình huống
- Căn cứ pháp luật:
+ Khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng
có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ
nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”.
+ Khoản 2 Điều 18 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định: “Vợ, chồng
có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng
nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình”.
+ Khoản
1 Điều 5 và Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 nghiêm cấm các
hành vi bạo lực gia đình sau: “Hành hạ, ngược đãi, đánh đập, đe dọa hoặc
hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;”
“Lăng mạ, chì chiết hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh
dự, nhân phẩm”.
“Kỳ thị, phân biệt đối xử về hình thể, giới, giới tính,
năng lực của thành viên gia đình”.
+ Khoản 1 Điều 6 của Luật Bình
đẳng giới năm 2006 quy định: “Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội và gia đình”
- Căn cứ đạo đức, văn
hóa:
+ Đạo lý vợ chồng yêu
thương nhau, đồng cam cộng khổ, động viên, giúp nhau vượt qua khó khăn trong cuộc
sống; từ xưa ông bà đã có câu: “Thuận vợ, thuận chồng tát biển Đông
cũng cạn”;“Của chồng công vợ”.
3. Hướng
giải quyết
- Khi tiến hành hòa giải,
hòa giải viên căn cứ trên cơ sở các quy định của Luật Bình đẳng giới năm 2006
nêu trên để phân tích cho anh Hiệp hiểu rằng: Vợ anh mặc dù không làm ra thu nhập
nhưng cũng được bình đẳng trong việc sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng.
Việc anh khinh thường chị Chi, không cho chị tham gia ý kiến, có tiếng nói
trong gia đình là không đúng.
- Hòa giải viên căn cứ
trên cơ sở các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Phòng, chống
bạo lực gia đình năm 2022 nêu trên cần phân tích để anh Hiệp hiểu việc anh chửi
bới, xúc phạm, đánh vợ là vi phạm quy định của pháp luật. Thậm chí, anh còn có
thể bị xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi đánh đập gây thương tích cho
thành viên gia đình.
- Hòa giải viên phân tích
thêm để anh Hiệp thấy được việc chị Chi không đi làm không phải vì chị lười biếng,
ỷ lại vào chồng; mà vì chị sinh con, chăm 02 con nhỏ liên tiếp; mặc khác chị
Chi xưa nay lại là người vợ hiền, dâu thảo, chăm con, chăm mẹ chồng đau ốm, biết
vun vén gia đình. Ông bà xưa đã dạy “Của chồng công vợ”, vì thế anh
nên tôn trọng vợ và biết yêu thương chia sẻ với vợ hơn.
- Hòa giải viên có thể đề
ra hướng giải quyết khó khăn kinh tế của gia đình anh chị: Hiện tại, gia đình
đang gặp khó khăn về tài chính thì có thể hỏi mượn người thân của 2 bên trong
lúc này; sắp tới bé con gái đầu đi học, bé sau cũng có thể gửi trẻ ở trường Mầm
non xã; khi đó, chị Chi sắp xếp thời gian và tìm công việc thích hợp để làm. Vợ
chồng đồng sức, đồng lòng, chia sẻ thì gia đình mới yên ấm hạnh phúc, kinh tế
gia đình mới cải thiện. Thay vì như hiện tại, cuộc sống gia đình nặng nề, mệt mỏi
mà lại không giải quyết được vấn đề.
- Hòa giải viên phân tích
để anh chị, mà đặc biệt là chị Chi không suy nghĩ về việc chồng ngoại tình, muốn
có con trai: Trong xã hội hiện đại ngày nay, suy nghĩ định kiến về giới tính,
trọng nam kinh nữ đã không còn; Luật Bình đẳng giới cũng đã nêu rõ
việc nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình;
không bị phân biệt đối xử về giới. Vì vậy, cả anh Hiệp và chị Chi đều không nên
có suy nghĩ gì về việc sinh 2 cô con gái, mà nên tập trung nuôi dạy, chăm lo
cho các con nên người, hiếu thảo thì dù gái hay trai cũng là niềm hạnh phúc của
cha mẹ. Việc chị Chi hoài nghi chồng ngoại tình chỉ vì xuất phát từ lúc căng thẳng,
không có bằng chứng hay gì hết; thực tế hàng xóm xung quanh cảm nhận anh Hiệp từ
trước đến nay là người đàng hoàng, không đi sớm về khuya, nhậu nhẹt, bỏ bê vợ
con… chị Chi nên tin tưởng vào chồng mình, vào tình cảm gia đình từ bao lâu
nay. Khó khăn thì gia đình nào dũng gặp phải, quan trọng là tìm cách tháo gỡ để
giải quyết thay vì những suy nghĩ tiêu cực hơn sẽ càng làm rạn nứt gia
đình.
Tình huống 16: Vượt
qua sóng gió cuộc đời
a. Nội dung vụ việc
Vợ chồng chị Ng và anh D
kết hôn vào đầu năm 2013. Từ ngày hai người kết hôn, nhờ tu chí làm ăn lại khéo
léo vun vén nên vợ, chồng anh chị đã tích góp mua được mảnh đất 200m2 ở
mặt đường với giá 450 triệu đồng. Cuối năm 2018, trên mảnh đất ấy, anh chị xây
ngôi nhà khang trang trị giá trên 1 tỷ đồng. Ngoài ra, họ còn dành dụm được một
số vốn kha khá để kinh doanh. Gia đình anh chị đầm ấm, hạnh phúc, lúc nào cũng
rộn rã tiếng cười là niềm mong ước của biết bao người. Vừa qua, chị Ng lại có
đơn đề nghị ly hôn khiến ai nghe cũng thấy ngỡ ngàng. Khi nhận được thông tin vụ
việc, tổ trưởng tổ hòa giải đã nhanh chóng vào cuộc để tìm hiểu câu chuyện.
b. Quá trình hòa
giải
Qua tìm hiểu, xác minh
thông tin, tổ hòa giải xác định được nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa hai vợ
chồng chị Ng. Cụ thể, mấy tháng qua, anh D đã đi đánh bạc nhiều lần, khi thì
thua 3 triệu, lúc lại thua 4 triệu. Chị Ng đưa tiền cho chồng để mua hàng về
kinh doanh, anh đều bớt lại đi đánh bạc. Một, hai lần chị còn cho qua, nhưng sự
việc cứ tiếp diễn khiến chị không thể chịu được. Đỉnh điểm gần đây, biết chồng
đi nhận tiền của đối tác, chị Ng đã linh tính là anh D sẽ bị bạn bè rủ rê, lôi
kéo vào đánh bạc nên chị nhiều lần gọi điện đều không được vì anh chặn số. Chị
nhờ cả bố mẹ hai bên liên lạc nhưng anh vẫn không chịu về nhà. Một tuần sau,
anh D trở về nhà trong tình trạng bơ phờ mệt mỏi. Bố mẹ anh D rất tức giận định
đuổi anh ra khỏi nhà. Không những thế, anh thú nhận với gia đình đã thua bạc
toàn bộ số tiền nhận của khách. Với tâm lý “được mải ăn, thua mải gỡ”, nên
ngoài số tiền khách trả, anh còn đi vay nóng với lãi suất cao nhằm gỡ lại,
nhưng càng lao vào như con thiêu thân thì anh càng mất thêm tiền. Sau đó, anh D
do chán nản đã sinh ra tật rượu chè, bỏ bê công việc, nhà cửa, gia đình. Thêm
vào đó là chủ nợ ráo riết đến đòi tiền nợ cả gốc và lãi. Chị Ng tiếc của cũng
nói với chồng những câu nặng lời. Không khí gia đình căng như sợi dây đàn. Nhiều
đêm mất ngủ lại thêm suy nghĩ, lo lắng, chị Ng bị trầm cảm, thậm chí, chị từng
có ý định quyên sinh. Xét thấy không thể tiếp tục cuộc hôn nhân với anh D được
nữa, chị đã gửi đơn ly hôn và xin được nuôi hai con sau khi ly hôn.
Tổ hòa giải đã phân công
bà Đ - hòa giải viên đến gặp chị Ng, ông K - tổ trưởng tổ hòa giải trực tiếp gặp
anh D để nói chuyện.
Sau nhiều lần kiên trì gặp
gỡ, hòa giải viên K đã phân tích để anh D biết được các quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng. Các cụ xưa đã có
câu “Cờ bạc là bác thằng bần, nhà tan cửa nát, vợ con chia lìa”. Ngoài
ra, pháp luật cũng có quy định rất cụ thể về xử phạt đối với người có hành vi
này. Tuy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà người có hành vi
đánh bạc sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 26 Nghị định số
167/2013/NĐ-CP hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 321
Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Lựa thời điểm thích hợp,
hòa giải viên K, hòa giải viên Đ và các thành viên trong tổ hòa giải của thôn
đã có mặt tại nhà vợ chồng chị Ng để tổ chức buổi hòa giải. Trước mặt mọi người,
anh D thẳng thắn thừa nhận thời gian vừa qua đã gây nhiều sóng gió đối với vợ
con và gia đình. Trong thâm tâm, anh vẫn yêu thương vợ con và muốn cùng chị Ng
tu chí làm ăn, trước để trả nợ, sau là làm giàu chính đáng và cùng nhau nuôi dạy
các con khôn lớn.
Chị Ng cũng nói về việc
chị gửi đơn ly hôn trong lúc quá nóng giận. Chị tự nhận thấy, trong lúc chồng mắc
sai lầm, lẽ ra chị cần gần gũi, động viên, chia sẻ nhưng chị xử sự nóng nảy là
một trong những nguyên nhân dẫn đến sai lầm tiếp theo của chồng. Không ai muốn
gia đình tan vỡ, con cái chịu cảnh bơ vơ nên chị cũng muốn cho chồng cơ hội để
sửa sai và hàn gắn gia đình.
c. Kết quả hòa giải
Buổi hòa giải đã
thành công, những mâu thuẫn, bất hòa giữa hai vợ chồng chị Ng và anh D đã được
hóa giải.
Sau buổi hòa giải thành,
hòa giải viên K vẫn thường xuyên quan tâm thăm hỏi về cuộc sống và công việc của
gia đình anh chị. Được sự giúp đỡ của gia đình hai bên, anh chị đã vay được một
số vốn để tiếp tục làm ăn, buôn bán, gây dựng lại kinh tế gia đình như trước
kia.
* Tình huống 17: Mâu
thuẫn do người chồng tự nhiên thay đổi tính nết
a. Nội dung vụ việc
Năm 1997, chị Hà Thị T,
sinh năm 1977 kết hôn với anh Lò Văn S sinh năm 1976 cùng trú tại bản Nà Tâu 2,
xã Huy B. Những năm đầu sau khi kết hôn, hai vợ chồng sống với nhau đầm ấm, hạnh
phúc, họ cũng sinh được 2 con khỏe mạnh, kháu khỉnh. Tuy nhiên, vài năm gần
đây, anh S đã có sự thay đổi về tính cách và hành vi. Anh S thường xuyên rượu
chè, đánh đập vợ con làm cho tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, không khí gia đình
trở nên ngột ngạt. Đã rất nhiều lần xích mích, mâu thuẫn giữa hai vợ chồng được
hàng xóm, anh em, bạn bè khuyên nhủ nhưng tình hình ngày càng trầm trọng hơn. Mới
đây, anh S sau khi uống rượu say về đã có hành vi bạo lực với vợ. Rất may là chị
T do đã đoán được ý đồ và hành động của chồng nên đã chủ động bỏ đi chỗ khác.
Không đánh được vợ, anh S đã lấy con dao sắc chặt đứt đôi 3 con lợn ở nhà mang
ra ngoài mương đem vứt… Không chịu được nữa cảnh suốt ngày bị chồng bạo lực, chị
T đã đề nghị tổ hòa giải thôn giúp đỡ giải quyết.
b. Quá trình hòa
giải
Sau khi nhận được đơn yêu
cầu hòa giải của chị T, tổ hòa giải đã trực tiếp gặp gỡ vợ chồng anh chị để tìm
hiểu về nguyên nhân mâu thuẫn, xích mích của hai vợ chồng, đồng thời cũng tiếp
nhận ý kiến của cả hai bên (các ý kiến của hai vợ chồng đều được lập thành biên
bản).
Tiếp đến, tổ trưởng tổ
hòa giải đã thay mặt tổ hòa giải làm việc và xin ý kiến của các tổ chức, đoàn
thể trong bản để tìm hiểu và củng cố thêm về nguyên nhân mâu thuẫn, xích mích của
hai vợ chồng anh S, chị T; đồng thời cũng xin thêm ý kiến của các tổ chức, đoàn
thể để sử dụng để khuyên can, giúp đỡ hai vợ chồng anh chị.
Trên cơ sở ý kiến của các
bên về nội dung mâu thuẫn, xích mích của hai vợ chồng anh S, chị T- tổ
trưởng tổ hòa giải đã đến gặp đồng chí công chức Tư pháp - hộ tịch xã để xin ý
kiến tư vấn về nội dung mâu thuẫn xích mích, các quy định của pháp luật liên
quan đến quan hệ hôn nhân gia đình, đến quyền và nghĩa vụ của vợ và chồng, các
quy định về xử lý hành chính, hình sự đối với các hành vi bạo lực gia đình, đồng
thời tư vấn về việc chọn địa điểm hòa giải, thành phần mời đến dự buổi hòa giải…
Buổi hòa giải được tiến
hành tại nhà đồng chí Tổ trưởng tổ hòa giải, thành phần được mời gồm các thành
viên tổ hòa giải bản Nà Tâu 2, đại diện các tổ chức, đoàn thể ở bản, đại diện hộ
gia đình hai bên nội ngoại, vợ chồng anh S và chị T.
Tại buổi hòa giải, tổ hòa
giải đã đề nghị anh S, chị T trình bày ý kiến và nguyên nhân mâu thuẫn xích
mích của hai vợ chồng, tiếp đến là ý kiến trình bày của đại diện hai bên nội,
ngoại về hành vi của vợ chồng anh S và chị T. Sau khi nghe ý kiến của anh S, chị
T, đại diện hộ gia đình hai bên nội, ngoại và các tổ chức, đoàn thể ở bản,
thành viên tổ hòa giải đã giải thích, phân tích cái đúng, cái sai, về tình
nghĩa vợ chồng cho vợ chồng anh S, chị T nghe, dẫn chiếu các quy định của pháp
luật quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, các quy định xử lý khi có hành
vi bạo lực gia đình.
c. Kết quả hòa giải
Nghe các thành viên tham
gia buổi hòa giải phân tích có tình, có lý, vợ chồng anh S và chị T
đã nhận ra lỗi của mình, hứa sẽ sửa chữa và cùng nhau viết cam kết xây dựng gia
đình văn hóa.
Tổ hòa giải lập biên bản
hòa giải thành, được các bên tham gia ký tên xác nhận. Tổ hòa giải cũng phân
công một hòa giải viên tiếp tục quan tâm, thường xuyên hỏi thăm, động viên vợ
chồng anh S chị T xây dựng gia đình hạnh phúc.
* Tình huống 18: “Phận
làm con”
a. Nội dung vụ việc
Bà Nguyễn Thị H, năm nay
82 tuổi, có 02 người con là anh S và chị P đều đã trưởng thành và lập gia đình.
Từ ngày chị P đi lấy chồng và ra ở riêng, bà H sống chung với vợ chồng anh S tại
căn nhà của bà. Trong những ngày sống cùng vợ chồng anh S, vợ chồng anh thường
xuyên đối xử bất kính với bà (ngược đãi, xúc phạm, đối xử tệ bạc với mẹ
mình,…). Thấy vợ chồng anh trai đối xử bất hiếu với mẹ nên chị P đã nói chuyện,
bàn bạc với vợ chồng anh S là để chị đón mẹ về chăm sóc, phụng dưỡng. Vợ chồng
anh S không chấp nhận và cho rằng nếu bà H về ở với chị P thì sau này bà sẽ cho
căn nhà mà vợ chồng anh đang ở cho chị P. Chính vì vậy, anh S đã có lời lẽ thiếu
tế nhị với chị P và cương quyết không cho chị đón mẹ về sống chung, dẫn đến mâu
thuẫn giữa 2 anh em ngày càng gay gắt.
b. Quá
trình hòa giải
Trên cơ sở kết quả gặp gỡ,
tiếp xúc với các bên mâu thuẫn, tranh chấp để tìm hiểu vụ việc; quan điểm các
bên, xác định mâu thuẫn, tranh chấp thuộc lĩnh vực pháp luật điều chỉnh; lựa chọn
thời gian, địa điểm, thành phần tham gia hòa giải; cách thức hòa giải…, tổ
hòa giải ấp 1, xã Hiệp H tiến hành hòa giải vụ việc nêu trên như sau:
Xác định mâu thuẫn,
nguyên nhân: Do cách đối xử
không tốt của vợ chồng anh S đối với mẹ là bà H nên chị P muốn đón mẹ về ở
chung, để tiện chăm sóc, phụng dưỡng mẹ, nhưng vợ chồng anh S không chấp nhận
vì lòng tham, sợ mẹ sẽ cho chị P căn nhà mà vợ chồng anh đang ở.
Tổ hòa giải phân tích cho
vợ chồng anh S hiểu: Bổn phận làm con phải luôn luôn kính trọng và
hiếu thảo, có nghĩa vụ phụng dưỡng, chăm sóc cho cha mẹ, nhất là khi cha mẹ ở
tuổi già hoặc khi ốm đau. Tình yêu cha mẹ dành cho con là vô hạn và kể
sao cho hết công ơn trời biển của cha mẹ lo cho con từ lúc con lọt lòng đến khi
khôn lớn. Ông cha ta đã có câu:
“Công cha như núi Thái
Sơn.
Nghĩa mẹ như nước trong
nguồn chảy ra.
Một lòng thờ mẹ, kính cha
Cho tròn chữ hiếu, mới là
đạo con”
Căn cứ pháp lý giải quyết:
Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014: Tại khoản 2, Điều 70 quy định: Con có bổn phận yêu quý, kính trọng,
biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của
gia đình; khoản 2, Điều 71 quy định: Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng
cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết
tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng chăm sóc, nuôi dưỡng
cha mẹ.
Điều 3 Luật Người cao tuổi
quy định: Người cao tuổi được bảo đảm các nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đi lại,
chăm sóc sức khỏe; Quyết định sống chung với con, cháu hoặc sống riêng theo ý
muốn; Điều 10 quy định: Người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng người cao tuổi
là con, cháu của người cao tuổi và những người khác có nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp
dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.
Điều 610 Bộ
luật Dân sự năm 2015 quy định: Mọi cá nhân đều bình đẳng về
quyền để lại tài sản của mình cho người khác và quyền hưởng di sản theo di chúc
hoặc theo pháp luật...
Căn cứ vào đạo đức xã hội,
phong tục, tập quán của địa phương: Đừng vì vật chất,
tiền tài, ham muốn nhất thời… mà đánh mất đạo hiếu làm con; đánh mất đi tình
anh em ruột thịt;… để rồi hối hận cả cuộc đời.
Anh S, chị P đều là con của
bà H nên cả 02 anh em đều có nghĩa vụ chăm sóc, phụng dưỡng mẹ mình là bà
H. Do vợ chồng anh S chăm sóc không chu đáo cho mẹ, thường xuyên đối xử không tốt
với mẹ, ngược đãi, xúc phạm, đối xử tệ bạc với mẹ, nên vợ chồng anh S phải đồng
ý cho mẹ về ở chung với chị P để chị chăm sóc, phụng dưỡng. Còn tài sản của bà
H, bà muốn cho ai là quyền của bà, anh S không có quyền cấm chị P đón mẹ về ở
chung, cũng như không có quyền gì để cản trở bà H về ở chung với chị P. Nếu vợ
chồng anh S không đồng ý thì sẽ vi phạm quy định của Luật Người cao tuổi; Luật
Hôn nhân và gia đình, Bộ luật Dân sự và vi phạm về đạo đức xã hội, phong tục, tập
quán truyền thống văn hóa của dân tộc.
c. Kết quả hòa giải
Sau khi nghe hòa giải
viên phân tích, vợ chồng anh S đã hiểu những hành vi không đúng của mình đối với
mẹ về cả khía cạnh luật pháp cũng như đạo lý của con cái đối với cha mẹ. Vợ chồng
anh S mong bà H tha thứ và hứa sẽ chăm sóc, phụng dưỡng bà nếu bà tiếp tục ở với
anh chị. Trường hợp bà muốn đến nhà chị P sống thì vợ chồng anh S sẽ đồng ý để
chị P đón bà về chăm sóc. Bà H đã đồng ý tha thứ cho vợ chồng anh S, song bà muốn
về ở với chị P một thời gian để thay đổi không khí. Thời điểm thích hợp về ở với
vợ chồng anh S, bà sẽ thông báo sau